Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Ba chuyên gia Mỹ đoạt giải Nobel Kinh tế
(TNO) Giải Nobel Kinh tế 2013 đã được trao cho ba chuyên gia người Mỹ vào ngày 14.10 nhờ nghiên cứu giúp cải thiện việc dự đoán giá tài sản trong dài hạn, đồng thời giúp giải quyết các tình huống khẩn cấp của các quỹ đầu tư chỉ số chứng khoán.
Ủy ban Nobel cho rằng công trình nghiên cứu cả ba chuyên gia người Mỹ - Eugene Fama, Lars Peter Hansen và Robert Shiller - “đã đặt nền tảng cho sự hiểu biết về giá tài sản”. “Không có cách nào dự đoán được giá của cổ phiếu và trái phiếu của vài ngày hoặc vài tuần tới. Nhưng chắc chắn có thể thấy trước được hướng đi chung của những giá cả này trong giai đoạn dài hơn, chẳng hạn như trong 3 hoặc 5 năm”, Ủy ban Nobel đánh giá.


"Diễn biến của giá tài sản đóng vai trò quan trọng cho các quyết định về tài chính, chẳng hạn như tiết kiệm, mua nhà và các chính sách kinh tế quốc gia. Việc định giá sai có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính, và như đợt suy thoái kinh tế mới đây đã cho thế, các khủng hoảng đó có thể gây tổn hại cho toàn bộ nền kinh tế", Ủy ban Nobel nhận định.

Ông Fama (sinh năm 1939) và ông Hansen (60 tuổi) đều là giáo sư của Đại học Chicago (Mỹ) còn ông Shiller (67 tuổi) là giáo sư của Đại học Yale.

Giải thưởng Nobel Kinh tế là giải thưởng không nằm trong di chúc của nhà khoa học Alfred Nobel, nên nó luôn được trao cuối cùng trong mùa giải Nobel hằng năm.

Ngân hàng Trung ương Thụy Điển đã lập ra giải thưởng Nobel Kinh tế vào năm 1968, và giải Nobel Kinh tế đầu tiên được công bố vào năm 1969. Còn các giải Nobel lĩnh vực khác, nằm trong di chúc của Nobel, được trao kể từ năm 1901.

Người Mỹ thống lĩnh danh sách những người đoạt giải Nobel Kinh tế, trong vòng 10 năm, trong số 20 người đoạt giải này có 10 người Mỹ.

Hồi năm 2012, hai học giả Mỹ Alvin Roth và Lloyd Shapley đoạt giải Nobel Kinh tế nhờ vào công trình về mô hình vận hành các thị trường đảm bảo cân bằng cung và cầu.

Theo AFP, các nhà quan sát nhận định rằng các công trình Nobel Kinh tế khó mà áp dụng vào thực tế bởi vì những rào cản chính trị.

Những người đoạt giải Nobel năm 2013 sẽ được trao giải tại một buổi lễ tổ chức long trọng ở thành phố Stockholm (Thụy Điển) vào ngày 10.12 tới.

Do khủng hoảng kinh tế, số tiền thưởng cho mỗi giải Nobel đã giảm từ 10 triệu kronor xuống còn 8 triệu kronor (1,25 triệu USD).

Phúc Duy - Hoàng Uy


Nobel Kinh tế 2013 thuộc về người Mỹ
Thông báo cách đây ít phút cho biết bộ ba nhà kinh tế Eugene F. Fama, Lars Peter Hansen và Robert J. Shiller giành được giải Nobel 2013 trong lĩnh vực kinh tế.
Đúng như dự đoán trước đó, giải Nobel Kinh tế năm 2013 đã thuộc về người Mỹ. Năm nay, có 3 giảng viên đại học cùng chia nhau giải thưởng.

Ba nhà khoa học chia nhau giải Nobel Kinh tế năm nay: ông Lars Peter Hansen (trên), ông Eugene F. Fama (dưới) và ông Robert J. Shiller (bên phải).

"Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã quyết định trao giải cho Nobel trong lĩnh vực Kinh tế năm 2013, nhằm tưởng nhớ đến ngài Alfred Nobel, cho: ông Eugene F. Fama, Đại học Chicago, Mỹ, ông Lars Peter Hansen, Đại học Chicago, Mỹ và ông Robert J. Shiller, Đại học Yale, Mỹ vì những phân tích đầy kinh nghiệm của họ về giá tài sản", bản thông báo ngắn gọn phát đi lúc 6h15 theo giờ Hà Nội của Viện này viết.

Viện Hàn Lâm khoa học Thụy Điển viết tóm tắt về công trình nghiên cứu của ba nhà kinh tế như sau:

Không có cách nào dự đoán được giá cổ phiếu, chứng khoán trong vài ngày hoặc vài tuần tới. Tuy nhiên, việc dự đoán ở tầm dài hạn hơn là điều có thể làm được, ví dụ dự đoán giá trong ba hay năm năm tới. Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển tìm thấy kết luận trên - vốn rất đáng ngạc nhiên và nghe có vẻ mâu thuẫn - trong nghiên cứu của ba nhà khoa học Laureates, Eugene Fama, Lars Peter Hansen và Robert Shiller.

Bắt đầu từ những năm1960, Eugene Fama và một số cộng sự đã chứng minh rằng giá chứng khoán rất khó đoán trong ngắn hạn, và rằng tin tức mới có ảnh hưởng cực kỳ nhanh chóng tới giá cả. Những nghiên cứu này không chỉ làm tác động nền đến những nghiên cứu về sau, mà còn có những thay đổi đáng kể tới thị trường. Những quỹ đầu tư theo chỉ số (Index Fund) đang ngày một nở rộ trên thị trường chứng khoán toàn cầu hiện nay là một trong những ví dụ tiêu biểu.

Nếu giá cả hầu như không thể đoán được trong phạm vi vài ngày hay vài tuần, liệu chúng có trở nên càng khó đoán trong vòng vài năm. Câu trả lời là không, như Robert Shiller từng khám phá ra vào đầu những năm 1980. Ông phát hiện ra rằng giá chứng khoán dao động nhiều hơn cổ tức các công ty, và rằng tỷ lệ giữa giá và cổ tức có xu hướng đi xuống khi cổ tức cao, và có xu hướng tăng khi cổ tức giảm. Công thức này không chỉ đúng với chứng khoán, mà còn đúng với trái phiếu và các loại tài sản khác.

Lợi nhuận cao trong tương lai được xem là khoản bù đắp cho việc nắm giữ tài sản rủi ro trong những thời điểm rủi ro bất thường. Nhà khoa học thứ ba trong Giải thưởng lần này, ông Lars Peter Hansen đã phát triển một phương pháp thống kê có thể phù hợp với việc thử nghiệm công thức tỷ lệ trên vào việc định giá tài sản trên thực tế.

Danh sách những người từng đoạt giải Nobel Kinh tế các năm 1999 - 2012:


Năm
Người đạt giải
Công trình
Quốc gia
2012Alvivin E.Roth Đại học Harvard và Lloyd S.Shapley, Đại học California.Lý thuyết phân phối ổn định và thực tiễn về tạo lập thị trườngMỹ
2011
Thomas J. Sargent và Christopher A. Sims
Mối quan hệ giữa chính sách kinh tế vĩ mô và tác động của chúng lên nền kinh tế.
Mỹ
2010
Peter A. Diamond, Dale T. Mortensen và Christopher A. Pissarides
Công thức mới cho sự tương tác trên thị trường, giữa bên có hàng hóa, dịch vụ, việc làm... với bên đi tìm kiếm.
Anh và Mỹ
2009
Elinor Ostrom và Oliver E. Williamson
Phương thức điều hành nền kinh tế
Mỹ
2008
Paul Krugman
Tác động của lợi thế quy mô tới các mô hình thương mại và địa điểm diễn ra các hoạt động kinh tế
Mỹ
2007
Leonid Hurwicz, Eric S. Maskin và Roger B. Myerson
Học thuyết phác thảo cơ chế
Mỹ
2006
Edmund S. Phelps
Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp
Mỹ
2005
Robert J. Aumann và Thomas C. Schelling
Xung đột và hợp tác thông qua phân tích "Lý thuyết trò chơi"
Mỹ
2004
Finn E. Kydland và Edward C. Prescott
Sự thống nhất về thời gian của chính sách kinh tế và lực đẩy phía sau chu kỳ kinh doanh
Na-uy và Mỹ
2003
Robert F. Engle III và Clive W.J. Granger
Phân tích số liệu kinh tế theo chuỗi thời gian ARCH và đồng hợp nhất
Anh và Mỹ
2002
Daniel Kahneman và Vernon L. Smith
Ứng dụng tâm lý học vào kinh tế và Phân tích kinh tế thực nghiệm
Mỹ
2001
George A. Akerlof, A. Michael Spence và Joseph E. Stiglitz
Phân tích thị trường với thông tin phi đối xứng
Mỹ
2000
James J. Heckman và Daniel L. McFadden
Lý thuyết và phương pháp phân tích lựa chọn rời rạc
Mỹ
1999
Robert A. Mundell
Chính sách tiền tệ và tài khóa dưới các cơ chế try giá hối hoái khác nhau
Canada
1998
Amartya Sen
Cơ cấu kinh tế ẩn dưới nạn đói và nạn nghèo
Ấn Độ
1997
Robert C. Merton và Myron S. Scholes
Phương pháp định giá công cụ tài chính phái sinh mới
Mỹ
1996
James A. Mirrlees và William Vickrey
Lý thuyết động cơ kinh tế theo thông tin phi đối xứng
Anh và Mỹ
1995
Robert E. Lucas Jr.
Phát triển và ứng dụng giả thuyết về dự tính duy lý
Mỹ
1994
John C. Harsanyi, John F. Nash Jr. và Reinhard Selten
Lý luận về phân tích cân bằng trò chơi phi hợp tác
Mỹ và Đức
1993
Robert W. Fogel và Douglass C. North
Áp dụng lý thuyết kinh tế và phương pháp định lượng trong giải thích các thay đổi về kinh tế và tổ chức
Mỹ
1992
Gary S. Becker
Ứng dụng kinh tế vi mô trong phân tích hành vi và tương tác của con người, bao gồm cả hành vi phi thị trường
Mỹ
Thanh Bình

0 nhận xét:

Đăng nhận xét